Monday, December 24, 2012

Ảnh đẹp ruộng bậc thang Tây Bắc

Mỗi dịp mùa thu khi ghé thăm vùng núi Tây Bắc, du khách sẽ có cơ hội được chiêm ngưỡng những cánh đồng ruộng bậc thang đẹp nhất vùng khoe sắc vàng óng ả đẹp như mơ ở Mù Căng Chải (Yên Bái), Sa Pa (Lào Cai), Hoàng Su Phì (Hà Giang)…

Ruộng bậc thang Sa Pa mấy năm nay đã trở nên nổi tiếng hơn khi đầu năm 2009 tạp chí du lịch Travel and Leisure (Mỹ) công bố đây là một trong 7 ruộng bậc thang kỳ vỹ nhất châu Á và thế giới .

Du khách tới Sa Pa thường tìm tới thăm quan, khám phá những khu ruộng bậc thang óng ả “như những chiếc thang vàng” của người Mông vùng Lao Chải, người Dao vùng Trung Chải, người Xa Phó vùng Nậm Sài, người Giáy vùng Tả Van …

Ruộng bậc thang vùng núi cao Mù Căng Chải là điểm đến không thể thiếu của du khách trẻ và các nhiếp ảnh khi bước vào vụ gieo cấy đầu hè và mùa thu hoạch – “mùa đẹp nhất trong năm” ở vùng cao Tây Bắc.

Một địa danh có những thửa ruộng bậc thang rất đẹp không kém gì ở Sa Pa và Mù Căng Chải là vùng núi cao Hoàng Su Phì (tỉnh Hà Giang). Nét đặc biệt là ở đây lúa chín muộn hơn nhưng lại cho sắc vàng tuyệt mỹ mỗi khi nắng sớm bừng lên trên những cánh đồng có những đường nét của những bức phù điêu khổng lồ tạc vào sườn núi …


Ruộng bậc thang ở Mù Căng Chải (Yên Bái).


Đồng bào Mông ở Yên Bái thu hoạch lúa mùa.


Nắng sớm Tú Lệ.


Ruộng bậc thang ở Hoàng Su Phì (Hà Giang).


Hạnh phúc trên cánh đồng vàng ở Xí Mần (Hà Giang).


Nắng sơm ở Sa Pả (Sa Pa).


Ruộng bậc thang ở Tả Van (Sa Pa).


Nắng chiều Lao Chải (Sa Pa).


Những đường cong ở Lai Châu.


Bức tranh vàng ở Hoàng Su Phì (Hà Giang).


Ruộng bậc thang ở Tả Giàng Phình (Sa Pa).


Niềm vui được mùa của thiếu nữ Mông Lai Châu.

Ảnh và bài: Lao Động

Wednesday, December 12, 2012

10 thành phố cổ nên khám phá

 

Angkor (Campuchia), Machu Picchu (Peru), Petra (Jordan), … là những thành phố cổ ai cũng nên tới ít nhất một lần trong đời.

 

Ephesus, Thổ Nhĩ Kỳ

Trong lịch sử cổ đại, Ephesus (Thổ Nhĩ Kỳ) là trung tâm về kinh tế và văn hóa của người La Mã ở châu Á. Đây còn là thành phố lớn thứ hai trên thế giới về mật độ số cư dân sinh sống và chỉ đứng sau thành phố Rome (thủ đô của đế chế La Mã).  

Hiện, thành phố Ephesus còn giữ được một số tàn tích từ thời La Mã và Hy Lạp tốt nhất trên thế giới, đặc biệt là nhà hát cổ - nơi trước đây có thể chứa tới 25.000 người.

Angkor, Campuchia

Theo một nghiên cứu năm 2007 của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (PNAS), Angkor là thành phố thuộc thời kỳ tiền công nghiệp lớn nhất thế giới. Ngày nay, Angkor có rất nhiều kỳ quan khảo cổ học, nổi tiếng nhất là đền Angkor Wat.

Teotihuacan, Mexico 

Teotihuacan là một thành phố lớn ở Trung Mỹ, được biết đến với những kim tự tháp bậc thang lớn và đại lộ rộng lớn ở trung tâm - Avenue of the Dead. Thành phố này hiện nay vẫn là đề tài tranh luận, đặc biệt là ai là người đầu tiên xây dựng thành phố này. Hiện tại, Teotihuacan còn giữu được những phế tích của các cung điện, lâu đài và các bảo tàng.

Thebes, Ai Cập

Thebes là thành phố “nắm giữ” một số phế tích ngoạn mục nhất từ Ai Cập cổ đại. Từng là thủ đô của Ai Cập trong suốt thời kỳ Trung Cổ và Tân Cổ, Thebes hiện còn giữ được một số công trình quan trọng như đền Luxor, Karnak và thung lũng của các vị vua.

Machu Picchu, Peru

Machu Picchu là một trong những thành phố cổ nhất thế giới. Thành phố này cao khoảng 2.430m so với mặt nước biển, nằm trên một quả núi có chóp nhọn. Machu Picchu có lẽ là biểu tượng thân thuộc nhất của đế chế Inca, thường được gọi là "Thành phố đã mất của người Inca". Từ năm 1983, địa điểm này đã được lựa chọn trở thành Di sản Thế giới của UNESCO.

Palmyra, Syria

Palmyra là một thành trì quan trọng của đế chế La Mã. Ngày nay, thành phố này còn giữ được một số phế tích quan trọng từ thời kỳ La Mã như công trình Great Colonnade, nhà hát và đền thờ của Bel.

Khajuraho, Ấn Độ

Khajuraho có lẽ được biết đến nhiều nhất vì những tác phẩm điêu khắc khiêu dâm. Du khách khi đến thành phố này có thể khám phá 22 ngôi đền đẹp tuyệt vời từ thế kỷ 10 và 11 - đặc trưng cho kiến trúc Ấn Độ thời trung cổ. Để khám phá thành phố này, du khách cần dành nhiều thời gian và cam kết bảo vệ các công trình nên hầu hết du khách chỉ thăm một số ngôi đền nổi tiếng và màn trình diễn âm thanh và ánh sáng khi đến đây.

Herculaneum, Italy

Thành phố Herculaneum bị phá hủy nặng nề khi ngọn núi lửa hoạt động vào năm 79 sau công nguyên. Đây có lẽ là nơi bảo tồn tốt nhất phong cách sống của người La Mã cổ đại với những ngôi nhà 2 tấng, treo tranh bích họa và trang trí nhà ấn tượng.

Chichen Itza, Mexico

Chichen Itza có lẽ là thành phố nổi tiếng nhất của nền văn minh Maya, một trong những di tích lịch sử ấn tượng nhất của Mexico. Đây cũng là thành phố đặc trưng cho sự hợp nhất của 2 phong cách kiến trúc Maya và Toltec. Ngày nay, thành phố này vẫn còn giữ được một số công tình kiến trúc nổi bật như kim tự tháp bậc thang Kukulkan, còn được gọi là El Castillo.

Petra, Jordan

Petra nổi tiếng vì có rất nhiều bức tượng được tạc trên vách đá. Khu vực này được thế giới biết tới bởi một nhà thám hiểm người Thuỵ Sĩ, Johann Ludwig Burckhardt, vào năm 1812. Khu vực này được công nhận là di sản thế giới của UNESCO năm 1985 và được mô tả là "một trong những tài sản văn hoá quý giá nhất của nhân loại".

Theo Eva

Friday, December 7, 2012

15 cảnh đẹp kỳ lạ nhất trên thế giới

Dòng sông băng nổi tiếng của Argentina cho đến Sa mạc trắng của Ai Cập đều nằm trong số 15 danh thắng có vẻ đẹp lạ thường được lựa chọn bởi trang mạng chuyên về du lịch Globalgrasshopper - địa chỉ quen thuộc của khách du lịch bụi khắp nơi trên thế giới.

1. Cánh đồng muối Salar de Uyuni, Bolivia

Với diện tích gần 11.000km vuông, cánh đồng muối Salar de Uyuni được coi là cánh đồng muối lớn nhất trên thế giới, lớn hơn 25 lần sa mạc muối Bonneville nổi tiếng ở bang Utah, Mỹ. Hàng nghìn năm trước, khu vực này là một phần của hồ nước mặn Minchin. Sau đó hồ cạn, tạo nên hai cánh đồng muối lớn. Nhiều người gọi nơi này là "sa mạc", bởi muối ở đây mịn và nhiều như cát.

Vào mùa khô, Salar de Uyuni phủ đầy muối khô, xe cộ có thể đi lại trên đó. Do ảnh hưởng của thời tiết, bề mặt của cánh đồng muối nứt ra tạo thành những hình lục lăng cực đẹp. Tới mùa mưa, những khu hồ lân cận tuôn nước tràn vào khiến hai cánh đồng biến thành biển muối mênh mông. Ngày nay, Salar de Uyuni đã trở thành địa danh nổi tiếng, thu hút du khách ở khắp nơi trên thế giới.

2. “Cung điện bông gòn” Pamukkale, Thổ Nhĩ Kỳ

Trong ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ, “Pamukkale” có nghĩa là “cung điện bông gòn trắng”. Từ xa nhìn về Pamukkale, ai cũng tưởng đó là một ngọn đồi tuyết phủ trắng in trên triền núi bao quanh, thực chất đó là kết quả của sự cấu thành giữa khoáng chất và nước đặc biệt tại vùng này.

Pamukkale được biết đến một phần vì đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, nhưng quan trọng hơn vùng đất này sở hữu suối nước nóng rất giàu khoáng chất, có khả năng chữa bệnh từ hàng ngàn năm trước. Theo truyền thuyết cổ xưa, các vùng nước trong những chiếc bể tự nhiên này có thể dùng để chữa bệnh huyết áp cao, bệnh tim, bệnh thấp khớp, các vấn đề về tuần hoàn, rối loạn thần kinh, chứng bệnh tiêu hóa, kiệt sức, bệnh về mắt, bệnh ngoài da và các rối loạn dinh dưỡng. Tại khu vực này có khoảng 17 suối nước nóng nhiệt độ 35 độ C đến 100 độ C.

3. Ngắm “tảng đá bánh” ở Punakaiki, New Zealand

Punakaiki là một thị trấn nhỏ trên bờ biển phía Tây của đảo South Island (New Zealand), nơi nổi tiếng bởi những tảng đá bánh xếp chồng lên nhau. Rất nhiều du khách tò mò muốn đến thăm vùng đất này chỉ để chiêm ngưỡng những tảng đá kỳ thú, được hình thành bởi hiện tượng xói mòn qua hàng ngàn năm.

4. Dòng sông băng Perito Moreno, Argentina

Sông băng này nằm trong Công viên Sông băng Quốc gia Los, phía tây nam tỉnh Santa Cruz, Argentina.

Dòng sông được đặt tên theo nhà thám hiểm Francisco Moreno, người đã nghiên cứu khu vực này từ thế kỷ XIX và đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lãnh thổ Argentina khi nước này tranh chấp biên giới với Chile.

Với chiều rộng 5km, sâu 170m và chiều cao trung bình trên mặt nước lên tới 74m, Perito là một trong ba dòng sông băng trong khu vực vẫn tiếp tục mở rộng. Theo chu kỳ trong bình 4 - 5 năm một lần, con sông sẽ chảy qua đoạn hình chữ L ở hồ Lago Argentino (hồ nước ngọt lớn nhất ở Argentina), tạo thành một cái đập chia đôi hồ.

5. Điểm Zabriskie, Thung lũng Chết, Hoa Kỳ

Có lẽ điểm nổi tiếng nhất ở Thung lũng Chết là Zabriskie với những cảnh quan nhấp nhô màu sắc rực rỡ của các rãnh, đồi núi, bùn ở rìa của dãy núi đen. Những dải núi đan chéo với nhau được tạo bởi các trầm tích từ Furnace Creek Lake (Hồ Nung) được nung khô từ cách đây 5 triệu năm trước.

6. Giant’s Causeway, Northern Ireland

Là Di sản thế giới duy nhất của Bắc Ireland được UNESCO công nhận, Giant Causeway là một điểm du lịch nổi tiếng với vẻ đẹp hấp dẫn và có sức ám ảnh.

Giant’s Causeway là khu vực ngự trị của khoảng 40.000 cột đá bazan đan xen với nhau, kết quả của những vụ núi lửa phun trào thời cổ đại, cách đây từ 50-60 triệu năm. Phần trên của những cột trụ này tạo thành những bậc thang dẫn từ chân vách đá và biến mất dưới biển. Phần lớn các cột có hình 6 cạnh, mặc dù cũng có cái 4,5,7 hoặc đến 8 cạnh. Cột cao nhất vào khoảng 12 m. Đằng sau di sản độc đáo này có rất nhiều truyền thuyết hấp dẫn và đầy huyền bí càng tạo thêm sự kỳ bí và sức thu hút của Giant’s Causeway đối với khách du lịch.

7. Cappadocia, Turkey

Cappadocia, một địa danh cũng thuộc Thổ Nhĩ Kỳ sẽ tạo cho du khách cảm giác bất ngờ về những công trình bằng đá và hệ thống thành phố ngầm dưới lòng đất.
Có nhiều địa điểm tham quan lý thú ở Cappadocia: thung lũng Goreme, thung lũng nấm, công viên quốc gia và nhà thờ đá, các thành phố ngầm dưới lòng đất Kaymakli, Derinkuyu, Ozkonk, thung lũng Zelve, thung lũng Urgup, vùng Avanos và làng nung gốm, dệt thảm truyền thống.
Vào mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 11), có nhiều hoạt động ngoài trời được ưa thích như bay trên khinh khí cầu ngắm vẻ đẹp thiên nhiên độc đáo của Cappadocia, đi bộ, cưỡi ngựa, đi xe máy hoặc đạp xe địa hình khám phá xung quanh thung lũng.

8. Sa mạc trắng, Ai Cập

Nằm ở miền Tây Ai Cập, vùng Sa mạc trắng (Sahara et Beyda) là một vùng sa mạc được bao phủ một lớp phấn trắng hay những núi đá màu kem. Sa mạc trắng bắt đầu từ khoảng 45 km về phía bắc Farafra.
Sa mạc trắng như tuyết này được tạo nên bởi đá phấn xuất hiện cách đây nhiều năm, mà các nhà địa chất gọi là "vân phong hóa”. Sự xói mòn của các hạt đá phấn mềm làm lộ ra tảng đá cứng hình dáng kì lạ. Những cây nấm đá cao 10-15 feet là tảng đá vôi bị mòn đi do sự kết hợp của gió và cát thổi với tốc độ cao từ hàng ngàn năm nay.

9. Công viên Quốc gia Yellowstone, Hoa Kỳ

Vườn quốc gia Yellowstone của Hoa Kỳ nổi tiếng trên toàn thế giới bởi cảnh quan độc đáo và hoạt động địa nhiệt đặc biệt nơi đây. Vườn quốc gia này trải rộng qua một phần của các bang như Wyoming, Montana và Idaho. Đây là niềm tự hào của người dân Mỹ với 10.000 mạch nước nóng - chiếm đến một nửa số mạch nước nóng trên toàn thế giới và vào khoảng 300 mạch nước phun trào từ lòng đất.
Ngoài ra, vườn Yellowstone còn thu hút rất đông du khách đến chiêm ngưỡng mạch nước phun Old Faithful, suối nước nóng, rặng núi Grand Canyon hay nhiều loài thú hoang dã như gấu Bắc cực, chó sói, nai sừng tấm, bò rừng…

10. Hverir, khu vực địa nhiệt, khu vực phía đông bắc Ai-len

Iceland là một thiên đường cho phong cảnh siêu thực, một trong số đó là Hverir - một khu vực địa nhiệt phía Đông của Reykjahlíð. Khu vực này vẫn đang hoạt động với những vũng nước lưu huỳnh sủi bọt và bốc hơi đi.

11. Cồn cát đỏ Sossusvlei, Namibia

Sossusvlei như một chảo muối và đất sét bao quanh bởi những đụn cát cao màu đỏ, nằm ở phần phía nam của Sa mạc Namib, trong vườn quốc gia Namib-Naukluft của Namibia. Tên "Sossusvlei" mang ý nghĩa mở rộng chỉ các khu vực xung quanh (bao gồm cả vleis, cồn cao), một trong những điểm thu hút khách du lịch chính của Namibia.

12. Eaglehawk Neck, Tasmania

Ở phía nam Tasmania, Eaglehawk Neck (cổ diều hâu) là dải đất hẹp kết nối lục địa Tasmania với bán đảo Tasmania. Đặc trưng của EagleHawk Neck (cổ diều hâu) là bề mặt như mặt đường lát đá. Đó chính là kết quả của sự xói mòn đá lâu đời ở nơi đây.

>13. Công viên quốc gia Timanfaya, Lanzarote

Những trận phun trào núi lửa rất lớn diễn ra tại Lanzarote vào năm 1730 đã nhấn chìm hơn 1/3 diện tích của hòn đảo này trong biển nham thạch. Ngày nay, các lớp nham thạch đã hình thành diện mạo vô cùng độc đáo cho cảnh quan thiên nhiên của công viên núi lửa Timanfaya. Đến đây, du khách ngỡ như mình đang du ngoạn trên mặt trăng vậy. Nét đẹp lạ kỳ và hiếm thấy tại công viên núi lửa Timanfaya đã thu hút khoảng một triệu lượt du khách đến tham quan hàng năm.

14. “Tiểu Tây tạng” Ladakh, Ấn Độ

Được mệnh danh là vương quốc tiểu Tây Tạng trên đất Ấn Độ do có địa hình khí hậu và văn hóa rất giống với Tây Tạng, Ladakh là một vùng đất rất đặc biệt, nơi Phật Pháp nói chung và Truyền Thừa Drukpa nói riêng phát triển mạnh mẽ, tạo nên một nền văn hóa Phật giáo đầy sống động và thịnh vượng. Cộng thêm với những nét văn hóa đặc thù của dãy tuyết sơn Himalaya, mảnh đất này sở hữu vẻ đẹp của sự pha trộn giữa hoang dã và bí ẩn.

15. “Hố thần tiên” Cenotes, Mexico

Cenote hay còn được gọi với cái tên đáng tự hào “Hố thần tiên” nằm trên bán đảo Yucatan, phía Nam khu resort Cancun ở Mexico. “Hố thần tiên” là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất đối với khách du lịch thế giới.
Bán đảo Yucatan ban đầu có một phần là rặng san hô và đá vôi, chìm sâu dưới đáy đại dương. Trải qua nhiều năm bị nước biển bào mòn, đẽo gọt, chúng trở thành những thạch nhũ có hình dáng kỳ lạ. Đồng thời, một hố sâu tới hơn 30 mét đã hình thành giữa những vách đá vôi. Ngày nay, Cenote đã trở thành “thánh địa” cho những ai yêu thích các bộ môn thể thao dưới nước: bơi, lặn ngắm san hô.

(Theo Globalgrasshopper/TQ – dulich.hgtravel.com)

Thursday, December 6, 2012

Mộc Châu- điểm nhấn của du lịch Tây Bắc

Mộc Châu (Sơn La) được xem là thiên đường của dân phượt trong những năm trở lại đây, là một trong những trung tâm du lịch trọng điểm quốc gia nằm trong chiến lược phát triển của du lịch vùng Tây Bắc.

Sức hút của Mộc Châu chính là nền văn hóa đặc sắc, đa dạng của nhiều dân tộc, vùng khí hậu đặc thù mát mẻ của thảo nguyên cùng một vùng hồ thủy điện và sông Đà có thể tổ chức tốt các tour du lịch sinh thái khám phá, mạo hiểm. Ngoài ra, đây còn là vùng cao nguyên với các trại nuôi bò sữa, đồi chè nổi tiếng trở thành sản phẩm du lịch nông nghiệp được khách du lịch rất yêu thích.

Là vùng nằm ở cung cung đường Tây Bắc nổi tiếng với cảnh quan kỳ vĩ, với phương tiện xe máy cơ động, dân phượt có thể rẽ qua được nhiều điểm khác nhau, như chạy qua đèo Hua Tạt- dài 8km nằm trên đường quốc lộ 6 cũ hay ghé thăm rất nhiều ngôi làng xinh xắn ven đường với những vườn đào đã nở hoa, vườn mận trắng ngút trời… vì thế Mộc Châu luôn được xem là thiên đường của dân phượt.

Một lợi thế của Mộc Châu là có cửa khẩu Pa Háng trên biên giới Việt Lào, rất thuận lợi cho việc kết nối với du lịch Lào. Về cơ sở vật chất, hiện nay sản phẩm cao cấp chưa nhiều, nhưng Mộc Châu có khách sạn 3 sao, 2 sao, cùng với các nhà nghỉ cộng đồng thôn bản đảm bảo nhu cầu đa dạng của khách du lịch.

Cùng với bản sắc văn hóa đặc trưng, dịch vụ du lịch được khai thác một cách bài bản, năm 2011, Mộc Châu đón khoảng 350 nghìn lượt du khách, tăng gần 30% so với năm trước, doanh thu từ du lịch đạt khoảng 150 tỷ đồng, tăng 35%.

che_moc_chau
Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Bình- Trưởng ban quản lý Khu du lịch Mộc Châu, cho biết, du lịch Mộc Châu phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, do nguồn nhân lực còn thấp, yếu về chuyên ngành, kỹ năng làm hướng dẫn viên, cách làm tour, giới thiệu sản sản phẩm, quản trị nhà hàng, khả năng tiếp cận với các hình thức du lịch còn hạn chế, khả năng tiếp cận CNTT còn hạn hẹp. Ở Mộc Châu, đa số là người dân tộc, bản tính thật thà, chất phác nhưng trong quá tình phát triển, các giá trị văn hóa đặc trưng đã bị mai một đi rất nhiều. Cơ sở hạ tầng, đời sống của người dân còn khó khăn nên việc phát triển dịch vụ du lịch chưa như mong muốn.

Ông Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh, thời gian qua, lãnh đạo địa phương tích cực hỗ trợ cho người dân khai thác các giá trị văn hóa, tiềm năng để phục vụ du lịch, như đã xây dựng CLB các nhà lữ hành có trách nhiệm với cộng đồng, phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp đào tạo nhân lực du lịch. Hướng dẫn cho cộng đồng cách làm du lịch, gìn gìn vệ sinh môi trường, văn hóa truyền thống, giúp đỡ, đầu tư xây dựng nhà vệ sinh, hỗ trợ quảng bá văn hóa, du lịch qua tờ gấp tờ rơi, clip, cầm tay chỉ việc như bày bàn ăn, chế biến, tiếp đón khách… cho người dân thôn bản.

Với những hoạt động đó, một số thôn bản thật sự lôi cuốn khá đông khách du lịch, tại đây du khách có thể xem, nghiên cứu, hòa mình với người dân bản, được ngủ với nhà dân, ăn các sản phẩm do người dân làm ra… vì thế đã tăng thời gian nhu cầu lưu trú của du khách. Thông qua đó, người dân thôn bản đã tự tin, tiếp cận với các yếu tố văn minh, tuy nhiên, hiện số bản phát triển du lịch homestay còn khá ít.

ban_doi_4

Ông Bùi Đức Hải, Phó Chủ tịch tỉnh Sơn La cho biết, tỉnh Sơn La đã hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Mộc Châu để báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng phê duyệt trong năm 2012. Để đánh thức tiềm năng du lịch Mộc Châu, đưa vùng đất này trở thành điểm nhấn của du lịch Tây Bắc, hiện Mộc Châu đang tập trung ưu tiên xây dựng và triển khai chiến lược sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm có thế mạnh, có khả năng cạnh tranh cao về du lịch văn hóa, sinh thái, nghỉ dưỡng, du lịch thể thao mạo hiểm, khám phá hang động và sông Đà. Đặc biệt là nâng cao trình độ từ cấp quản lý Nhà nước, tập trung vào đào tạo hướng dẫn viên, quản trị khách sạn nghiệp vụ về buồng bàn, bar, cách thức giao bán dịch vụ… thông qua đào tạo trực tiếp, gián tiếp, đào tạo lại, kết hợp từ Nhà nước với doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Mộc Châu cũng đang triển khai chiến lược đầu tư và mời gọi đầu tư, trong đó xác định rõ địa bàn đầu tư trọng điểm là khu trung tâm ở Chiềng Đi, Vân Hồ, rừng thông Bản Áng, thác Dải Yếm, khu ngũ động Bản Ôn, các điểm tham quan nông trường, đồi chè, khu chăn nuôi bò sữa và chế biến chè, sữa, các bản văn hóa dân tộc... Trên cơ sở Nhà nước quy hoạch, đầu tư hạ tầng cơ sở quan trọng bằng nhiều nguồn vốn lồng ghép, doanh nghiệp và cộng đồng đầu tư các sản phẩm du lịch cụ thể.

Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch- Nguyễn Mạnh Cường cho biết, để du lịch Sơn La nói chung và Mộc Châu nói riêng phát triển, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của địa phương, rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế. Trong thời gian tới, với trách nhiệm của mình, Tổng Cục du lịch sẽ sớm cùng với các ngành, các cấp, các cơ quan giúp Sơn La hoàn thiện các thủ tục, trình tự phê duyệt khu du lịch Quốc gia Mộc Châu. Đặc biệt, Tổng cục Du lịch sẽ hỗ trợ Sơn La trong công tác xúc tiến, quảng bá trong và ngoài nước, hỗ trợ trong chuyên môn, đào tạo, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng.

Hoa Quỳnh- Báo Công Thương - http://mocchautourism.com

Monday, December 3, 2012

Du lịch Tây Bắc

Tây Bắc, một vùng văn hoá, xứ sở hoa ban, quê hương xoè hoa, miền đất dịu ngọt của những thiên tình sử Tiễn dặn người yêu nhưng cũng đầy tiếng than thở của những thân phận người Tiếng hát làm dâu.
Tây Bắc là một miền núi cao hiểm trở. Các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, trong đó có dãy Hoàng Liên Sơn dài đến 180 km, rộng 30 km, cao từ 1500m trở lên, các đỉnh cao nhất như Phanxipăng 3142m, Yam Phình 3096m, Pu Luông 2.983m. Dãy Hoàng Liên Sơn, được người Thái gọi là "sừng trời" (Khau phạ), chính là bức tường thành phía đông và vùng Tây Bắc.

Nó nằm bên bờ phải sông Hồng, con sông mà tổ tiên người Thái gọi là Nậm Tao, nên ngày nay đoạn sông này còn có tên tiếng Kinh là sông Thao. Dòng Nặm Tao chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử thiên di của người Thái đen vào Tây Bắc. Theo sử huyền thoại Thái thì tổ tiên họ là Tạo Xuông – Tạo Ngần bay từ trên trời xuống và phải vượt qua con sông rộng, lắm sóng dữ, ghềnh thác. Qua con sông là đến địa phận của trần gian. Khó khăn là thế nên tên thần thoại của dòng Nặm Tao là dòng "Sông Đắng – sông Xối" (Nặm ta Khôm- Nặm Ta Khái). Còn theo các nhà dân tộc học thì dòng sông là con đường mà theo đó tổ tiên người Thái thiên di vào Việt Nam từ thế kỉ XI đến thế kỉ XIV.


Từ dòng Nặm Tao, người Thái tạt vào bên phải, chiếm lấy đất Nghĩa Lộ làm bàn đạp để rồi tiến mãi đến tận Điện Biên Phủ, giáp Lào. Đất ấy, tên Thái là Mường Theng tức Mường Trời và trở thành "cố đô" của nhiều đời tù trưởng. Vậy nên, dòng Nặm Tao hiển nhiên là địa đầu phía Đông và biên giới Lào là địa đầu phía Tây của vùng văn hóa Tây Bắc. Giữa hai điểm đó con sông Đà phát nguyên từ phía Bắc kẻ một đường chéo Tây Bắc - Đông Nam, đi qua đất Hòa Bình rồi hợp lưu với dòng Nặm Tao ở ngã ba Việt Trì để làm nên sông Cái - sông Hồng của châu thổ phì nhiêu. Trên đường đi, sông Đà - tên Thái là Nặm Tè - tiếp nhận lượng nước của biết bao suối nhỏ và cả một dòng sông Nặm Na hợp lưu với nó ở ngay tỉnh lị Lai Châu. Sát với biên giới Lào là dòng sông Mã chảy từ Điện Biên xuống đến phía Tây tỉnh Sơn La thì quặt sang đất Lào và trở về miền Tây Thanh Hóa để xuôi về biển. Vậy nên, đất Tây Bắc còn được đồng bào gọi là đất "ba con sông", tạo nên ba dải "nước màu: trắng, xanh, đỏ". Bởi vì sông Mã lắm thác ghềnh nên nhiều sóng bạc đầu. Lại còn có truyền thuyết dòng sông là nữ thần canh giữ mỏ bạc mà xưa kia người Thái - La Ha thường khai thác. Dòng Nặm Tè (sông Đà) chảy giữa các triền núi đá grannít, sâu thẳm xanh đen một màu. Còn dòng Nặm Tao mang nặng phù sa thì chính người Kinh cũng gọi là sông Hồng. Ba con sông tự nhiên nhưng trở thành biểu tượng riêng của vùng đất. Chúng lại có ba màu của nắng, của cây và của đất. Chúng biến thành những tín hiệu văn hóa vùng mà người dân bản địa lấy đó làm tự hào, để phân biệt với người vùng muối (Kinh), người vùng sông Lô, sông Chảy (Tày, Nùng) v.v...

Từ dưới xuôi đi lên phải qua đất tỉnh Hòa Bình, xưa kia phải vượt sông Đà ở bến chợ Bờ và Suối Rút, rồi phải leo gần 100km đèo mới đến được cao nguyên Mộc Châu, cao 800-1000m. Phải lên đến đấy mới bước chân vào vùng Tây Bắc, nơi mà hoa ban nở trắng rừng, xen lẫn với thông reo vi vút và những rừng tre vầu ống lớn, cây cao Chẳng thế mà Mộc Châu có tên Thái là Trảng Tre – Trảng Ban (Phiêng Xang - Phiêng Ban). Từ cao nguyên "Tre Ban" đổ xuống thung lũng hẹp Yên Châu để rồi leo qua dãy Chiềng Đông lại đổ xuống Nà Sản mà về Sơn La.


Từ Sơn La phải vượt dãy Pha đến (nơi ngăn cách Trời - Đất) đến ngã ba Tuần Giáo, rẽ trái vào Điện Biên, đi thẳng thì lên Lai Châu. Từ đây ngược nữa lên phía phải để đến đất Sìn Hồ của dãy Hoàng Liên Sơn, hãy men theo chân nó đi lên biên giới phía Bắc. Nếu ngược nữa lên phía trái là đến Mường Tè có bản Mường Nhé, nơi con gà gáy ba nước Việt - Lào - Trung đều nghe. Hành trình vừa kể trên chính là trục dọc của vùng văn hoá Tây Bắc.

Dẫu rằng cũng nằm trong vòng đai nhiệt đới gió mùa, nhưng do ở một độ cao từ 800-3000m nên khí hậu ngả sang á nhiệt đới và nhiều nơi cao như Sìn Hồ có cả khí hậu ôn đới. Đã thế, địa hình lại chia cắt bởi các dãy núi, các dòng sông, khe suối, tạo nên những thung lũng, có nơi lớn thành lòng chảo như vùng Nghĩa Lộ, Điện Biên. Do vậy, Tây Bắc còn là nơi có nhiều tiểu vùng khí hậu. Trong lúc đó ở thung lũng Mường La, người ta mặc áo ngắn tay giữa mùa đông thì ở Mộc Châu phải mặc áo bông dầy mà không khỏi rét. Nhưng chính vì vậy mà thiên nhiên Tây Bắc rất đa dạng, thổ nhưỡng nhiều loại hình. Dân số thấp, năm 1978 mới có 59ng/km2. Với tỉ lệ tăng 3,5%/năm cộng với việc di dân, đến năm 1990 cũng chỉ có 120 người/km2. Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc, đều làm công nghiệp với hai loại hình : ruộng nước ở thung lũng, và nương rẫy ở sườn núi. Câu ngạn ngữ Thái đã nói :

Xá ăn theo lửa
Thái ăn theo nước
H'mông ăn theo sương mù.

Người Thái, tộc người đa số trong vùng, làm ruộng nước trong các thung lũng, các vùng lòng chảo. Người Mường và một bộ phận người Dao cũng thế. Nhưng ngay những tộc người này cũng phải làm thêm nương rẫy thì mới đủ sống. Người Xá, theo tên gọi miệt thị xưa, bao gồm nhiều tộc khác nhau như Khơmú, Laha, Kháng, Mảng, Xinhmun... Họ làm nương theo phương pháp thô sơ : phát rừng, đốt lấy tro, chọc lỗ tra hạt. Còn người H'mông thường ở núi cao, cũng phát rừng, nhöng lại biết dọn gốc, cày xới làm nương thâm canh. Ruộng và nương chỉ giải quyết được lương thực và một phần rau xanh. Thịt, cá, rau và cả lương thực khi mất mùa, đều còn phải trông vào hái lượm, săn bắt. Chẳng thế mà đồng bào có câu:

Cơm, nước ở mặt đất
Thức ăn ở trong rừng

Tây Bắc thực ra là tên gọi theo phương vị, lấy Thủ đô Hà Nội làm điểm chuẩn, hiện tại là địa bàn gồm bốn tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái. Khi nói đến vùng văn hóa Tây Bắc thì phải kể một phần tỉnh Hoà Bình nữa. Năm 1955 đổi thành khu tự trị Tây Bắc, vì tên cũ Khu Tự trị Thái Mèo không phản ánh hết tên của gần hai chục dân tộc sinh sống ở đây. Chỉ kể những dân tộc tương đối đông dân ta đã có Thái (với các ngành Đen, Trắng, Đỏ). H'mông với các ngành Trắng, Xanh, Đen, Hoa, Dao (với các ngành Quấn chẹt, Nga Hoàng, Dao đỏ), Mường, Khơmú, Laha, Xinhmun, Tày... Ngoài ra, còn có một bộ phận người Kinh vốn là con cháu nghĩa binh Hoàng Công Chất đã sống lâu đời ở đây, và một bộ phận người Hoa, vốn là dòng dõi quân Lưu Vĩnh Phúc. Mỗi dân tộc đều có văn hóa mang bản sắc riêng. Quả là khó khi muốn nói về văn hoá cả vùng với một quần thể cư dân đa dạng như thế. Nhưng dẫu sao tính chất vùng của văn hóa Tây Bắc vẫn được hiện ra lồ lộ không thể phủ định được. Cần phải ngược dòng lịch sử, nhưng không thể quá xa vì chẳng lấy đâu ra chứng cứ. Vả chăng, chỉ cần phạm đến đầu công nguyên là đã bắt gặp các văn hóa cơ tầng của miền đất này rồi.


Thuở ấy cư dân Tây Bắc vẫn là một bộ phận của nền văn minh đồng thau Đông Sơn với trống đồng và công cụ bằng đồng, những thứ mà ngày nay đã trở thành vật thiêng, chỉ dùng trong các nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Trong số cư dân ấy, người Kháng có tục uống nước bằng mũi (Ta mui). Nước măng chua, hòa tỏi, rau thơm, gạn lấy nước, đổ vào vỏ quả bầu mận, cho chảy vào mũi, trong lúc ấy miệng thì nhai cá hay thịt. Cách uống này vẫn còn thấy ở người Kháng sống ở ven sông Đà, phía bên Tà Xại, Sơn La. Đặc biệt người Kháng rất giỏi làm thuyền độc mộc. Người Thái phải công nhận "Thuyền tốt không gì bằng thuyền Kháng".
Còn người Laha thì mãi đến ngày nay vẫn được người Thái tôn sùng vì được coi là chủ nhân trống đồng. Bởi vì cả người Laha lẫn người Thái đều có trống đồng làm vật thiêng, có thần trú ngụ trong đó. Người Laha cũng nổi tiếng về hội lễ "Mừng mùa măng mọc" với điệu múa thực khí sinh động, rộn ràng trong tiếng đệm của một đàn ống tre rỗng, gõ trên tấm ván với những cô gái nhún nhảy múa.
Đến những năm 60 của thế kỉ này người Mảng vẫn còn bảo lưu xăm những chấm, những vòng tròn có chấm ở giữa, quanh miệng và cằm. Vì thế người Thái gọi họ là "Xá cằm hoa" (Xả công Lái), tức người Xá cằm xăm hoa.
Tất cả những nét đặc trưng như trống đồng, thuyền độc mộc, nhạc cụ tre nứa, tục xăm mình, đều như phảng phất những gì đã từng được sách chữ Hán cũng như các truyền thuyết nói về xứ sở của các vua Hùng.
"Vào khoảng thế kỉ XI-XII, một bộ phận tổ tiên ngành Thái đen... do Tạo Ngần thiên di xuống chiếm miền Mường Lò mà Người Kinh cũng vậy, họ gọi là Đông cổ thần cánh đồng Nghĩa Lộ là trung tâm". Cháu Tạo Ngần là Lạng Chượng cầm binh đánh thắng dần các bộ tộc Nam á từ Nghĩa Lộ qua Sơn La và tới Điện Biên..., cuộc hành trình của Lạng Chượng mở đầu "giai đoạn bọn thống trị Thái làm chủ miền Tây Bắc"
Theo sách dã sử và truyền thuyết của chính người Thái, Lạng Chượng phải chật vật lắm mới thắng nổi quân Nam á. Truyền thuyết Thái kể rằng : "Quân Xá" (tức Nam á) có tên làm bằng đồng sắc nhọn, quân Thái chỉ có tên tre. Lạng Ch­ưng mới lập mưu thách nhau bắn xem tên ai cắm vào đá là thắng Quân Xá bắn tên đồng vào đá thì bật ra. Quân Thái nạp cụm sáp ong vào đầu tên tre nên bắn vào đá thì dính. Quân Xá" chịu thua, phải để quân Thái chiếm đất, còn quân Xá phải chạy vào rừng sâu mà ở.",
Truyền thuyết cũng kể rằng quân Xá thua, chẳng những mất đất mà còn phải dâng trống đồng cho quân Thái. Từ đấy các dân tộc Nam á suy thoái dần, nền văn hóa huy hoàng thuở ấy bị mai một rất nhiều. Ngày nay, trong văn hóa của họ đã có nhiều yếu tố Thái. Chẳng hạn, họ đã hoàn toàn quên mất nền âm nhạc của mình mà chỉ còn biết sử dụng các làn điệu lí Thái để hát. Ngược lại, người Thái lại học được rất nhiều từ văn hóa của những người bản địa chiến bại, khiến cho văn hoá Thái (đặc biệt là Thái Đen), Tây Bắc loại biệt hẳn với văn hoá những người anh em chung cội nguồn của họ nh­ người Tàu phía Đông và người Lào phía Tây. Chính quá trình hỗn dung và tiếp biến văn hóa đó đã tạo nên sắc thái vùng văn hóa Tây Bắc, thông qua văn hóa Thái là chủ thể.


Từ mươi thế kỉ trở lại đây, với vai trò chủ thể trong lịch sử phát triển của vùng, văn hóa Thái (với những yếu tố diễn biến từ văn hóa Đông Nam á nổi lên như một sắc thái đại diện cho văn hóa Tây Bắc.
Trước hết xin bắt đấu từ văn hóa "đời thường". Từ cao nguyên Mộc Châu xuôi xuống thung lũng Yên Châu ở phía Bắc là đã bắt gặp những ngôi nhà sàn ẩn hiện những dãy cây xoài, rặng chuối. Nhà sàn Thái có cái mái đầu hồi khum khum hình mai rùa, trên đỉnh đầu hồi ấy có hai vật trang trí, người Thái gọi là "Sừng cuộn" (Khau cút) vì đầu phía trên của nó thường được thao tác thành một vòng tròn xoáy trôn ốc, giống như ngọn rau đớn (Phắc cút), một thứ rau rừng rất được đồng bào ưa chuộng. Bản Thái th­ờng nằm ở ven đồi, chân núi, nhìn ra cánh đồng. ở đấy thế nào cũng có ít nhất một dòng suối to nhỏ tùy nơi. Bản nào ở chân núi đá thì hay dùng mạch nước ngầm làm nước ăn, gọi là "Mỏ nước" (Bó nặm). Văn hóa nông nghiệp thung lũng Thái nổi tiếng vì hệ thống tưới tiêu, được gói gọn dốc của dòng chảy, người ta lấy đá ngăn suối làm nước dâng cao, đó là cái "phai". Phía trên "phai" xẻ một đường chảy lên dẫn vào cánh đồng, đó là "mương" Từ "mương" xẻ những rãnh chảy vào ruộng, đó là "lái". Còn "lịn" là cách lấy nước từ nguồn trên núi cao, dẫn về ruộng, về nhà, bằng các cây tre đục rừng đục mấu, nối tiếp nhau, có khi dài hàng cây số. Người Kinh vùng núi Phú Thọ (cũ) học theo cách làm này và gọi chệch đi là "lần nước". Do chủ động tưới tiêu nên người Thái nuôi cá ngay trong mực nước của ruộng lúa. Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá. Cá nuôi trong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa. Cho nên, món dâng cúng trong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng. Và món cá là biểu hiện lòng hiếu khách :

Đi ăn cá, về nhà uống rượu
ở thì ngủ đệm, đắp chăn ấm

Những dòng suối còn đóng vai trò quan trọng trong tâm linh con người. Suối được coi là vật nữ tính : "con suối" (Me nặm). Suối lại là nơi trú ngụ của thần nước, thường ở những đoạn nước cuốn thành vực (Vắng năm). Hàng năm, khi làm lễ cúng bản (Xên bản) vào mùa xuân, người ta tổ chức ngay trên bờ vực nước đó. Có một tâm thức tín ngưỡng với nước là đặc điểm chung của các tộc người làm nông nghiệp. ở người Thái, tâm thức đó được thể chế hóa bằng hình tượng thần nước dưới dạng thuồng luồng và bằng các lễ cụ thể. Con suối và cánh đồng, những sản phẩm sáng tạo và chiếm lĩnh của con người cũng đã đi vào thơ ca, âm nhạc như những hình tượng đẹp của cảm xúc thẩm mĩ như lời bài dân ca sau :

Đêm trăng sáng
Tâm hồn em như muốn phiêu diêu
Chơi tha thẩn bên bờ cát trắng
Bờ cát trắng lấp lánh ánh trăng
Chờ tiếng sáo anh
Luồn qua sương, luồn qua chân núi
Đến với em trong ánh trăng ngời ngài.

Nương rẫy là một bộ phận bổ sung không thể thiếu với n­ơng, đồng bào có lúa, rau quả như bầu bí, rau cải, đậu, đu đủ, vừng, kê, ớt,.v..v... Bông và chàm cũng trồng trên nương. Và rừng, rừng bạt ngàn là nơi con người hái rau rừng, lấy thuốc chữa bệnh, thuốc nhuộm, săn bắt thú rừng và khi thất bát mùa màng thì chính rừng, với củ mài, bột báng đã cứu họ khỏi chết đói. Bản làng có một thái độ rất kính trọng với rừng. Chẳng phải vì rừng có ma thiêng, mà vì rừng là nơi con người nương tựa để tồn tại. Luật Thái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng, săn bắn thú, đặc biệt là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn.
Người Thái bảo vệ rừng ban không chỉ vì nó là biểu tượng văn hóa của quê hương họ, mà còn vì chỉ có ban mới mọc được. ở nơi đất cằn nhờ có ban giữ lại mùn tự trên cao chảy xuống, mà đất cằn tái sinh, mà mùn rác không lấp ruộng, nghẽn suối, mà nước mưa ngấm vào lòng đất ngăn những cơn lũ ống. Chỉ riêng cách ứng xử với cây ban cũng đủ thấy đặc trưng văn hóa Thái nói riêng, Tây Bắc nói chung có một trình độ khoa học thế nào, có tính nhân văn ra sao trong cái nhìn sinh thái học. Chẳng riêng gì ng­ời Thái, con người H'mông trên núi cao, người Khơmú, người Dao, người Kháng, Laha v.v.. ., trong rừng sâu đều tự nguyện tuân theo luật Thái. Điều đó không đơn thuần vì giai cấp thống trị Tây Bắc trước kia là thuộc tộc Thái, mà điều quan trọng là ở chỗ, đây cũng là quyền lợi lâu dài của tất cả các dân tộc trong vùng.
Cũng như hầu hết các dân tộc trong vùng, người Thái sống chân thật, giản dị và rất hòa thuận. Trong gia đình, trong bản không bao giờ thấy người ta to tiếng với nhau. Đặc biệt không bao giờ trẻ con bị mắng mỏ nặng lời, chứ không nói đến việc bị đánh đòn. Trẻ con hiểu nhiệm vụ của chúng và rất tự giác thực hiện. Chúng có sai sót gì, người lớn chỉ nhắc nhẹ. Trẻ em rất ngoan, chúng chơi đùa với nhau rất thân ái. Gặp lúc khó khăn, đói kém người ta đến họ hàng xin lương thực. Người được hỏi xin sẵn sàng chia sẻ số lương thực còn lại, dù biết rằng sau đó chính họ cũng sẽ lâm vào cảnh thiếu đói và cũng phải lên rừng đào củ mài, củ bới thay cơm. Ngay bây giờ, khi nền kinh tế thị tr­ờng đã có tác động vào đời sống cư dân Tây Bắc, thì phong tục này vẫn được thực hiện với tấm lòng vị tha và tình nghĩa sâu đậm.
Nhân đây cần nói ngay rằng nếp sống hòa thuận, tôn trọng người già, thương yêu con trẻ và giúp đỡ nhau vô tư là đặc điểm chung của các dân tộc trong vùng Những kì thị dân tộc không phải không có, nhưng rất hiếm và phần nhiều là cách đánh giá của giới quý tộc Thái, còn giữa những người lao động thì hầu như không có. Cho nên, khi đói kém, anh em H'mông ở núi cao xuống, bà con Khơmú, Mảng trong rừng sâu ra, bản Thái sẵn sàng chia sẻ. Ngược lại, cũng có năm, bản Thái lượt kéo nhau lên núi cao để khi về kĩu kịt những tặng phẩm của bà con người H'mông. Vào những năm tháng kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đồng bào Thái lại đ­ợc anh em các dân tộc Nam á giúp đỡ tận tình ở nơi sơ tán. Nhìn nhận hiện tượng này, các nhà kinh tế học cho rằng đó là hệ quả của một xã hội chưa biết đến thương nghiệp với vật ngang giá là đồng tiền. Cũng có thể là như vậy. Nwng nếu tiếp cận từ góc nhìn văn hóa thì cũng phải công nhận đây là một thuần phong mĩ tục trong quan hệ giữa người các dân tộc với nhau. Nếu không thế thì không thể giải thích được, vì sao ngày nay trong cơ chế kinh tế thị trường, phong tục truyền thống vẫn được giữ vững và sẽ không hiểu thế nào được sự tồn tại suốt mấy chục năm của các "quán tự giác" trên khắp nẻo đường Tây Bắc. Đồng bào treo chuối, mía, trứng, để giá tiền vào từng loại, khách qua đường tự lấy ăn rồi bỏ tiền vào cái túi vải treo cạnh đó. Khách có tiền lớn thì có thể đổ tiền trong túi ra, tự lấy tiền thừa rồi bỏ tiền của mình và số tiền sẵn có của quán hàng trở lại vào túi. Chủ quán không có mặt, nhưng chẳng ai dám cả gan ăn cắp - kể cả những lái xe người Kinh thích đùa đi qua đường.


Các dân tộc trong vùng đều có tín ngưỡng "mọi vật có linh hồn" (animisme), một loại tín ngưỡng mà mọi dân tộc. trên hành tinh đều trải qua. Có đủ loại "hồn" và các loại thần sông núi, suối khe, đá, cây, súc vật, các lực lượng thiên nhiên như sấm, chớp, mưa, gió. Các bộ phận trên thân thể con người cũng có hồn. Người Kinh cho rằng có ba hồn bảy vía (nam) và ba hồn chín vía (nữ). Người Thái có đến 80 hồn (Xam xếp khoăn mang nả. Hả xếp khoăn mang lăng), như hồn tóc, hồn lông mày, lông mi, tai, mũi, trán v.v... Người chết không biến mất mà trở về sống ở bản của tổ tiên. Do chỗ mọi vật đều có hồn, nên cần phải cư xử với chúng như trong quan hệ với người. Vậy có hồn tốt, hồn xấu, hồn ác, hồn lành tùy thuộc vào cách đối xử của người với chúng. Vào hoàn cảnh xã hội cổ truyền thì đây là cách chiếm lĩnh thiên nhiên và thực tại của đồng bào, với hi vọng có thể nói chuyện", có thể "thương lượng thậm chí khi cần thì cầu xin chúng. Bằng cách đó, đồng bào thiết lập được mối quan hệ với mọi vật và với tổ tiên, đặt con người vào tống thể môi trường không gian và thời gian, tạo nên một cân bằng trong tâm thức. Con người hội tụ vào cuộc sống hiện hữu của mình các miền thời gian : quá khứ, hiện tại, tương lai; và các chiều không gian, thiên nhiên, môi trường, con người, xã hội. Đó chính là mối quan hệ đa diện, đa phương đảm bảo cho tính hợp lí và sự ổn định tất yếu của cuộc sống con người. Thiết tưởng, với trình độ khoa học kĩ thuật chưa phát triển thì cách nhận thức thế giới theo phương pháp huyền thoại, tín ngưỡng này không phải không có tác dụng tích cực cho sự tốn tại của cộng đồng và con người.
Văn hóa nghệ thuật, lĩnh vực văn hóa thể hiện cái nhìn thẩm mỹ của nhân dân Tây Bắc có nhiều nét độc đáo và trở thành một trong những dấu hiệu làm nên đặc trưng văn hóa vùng. Riêng về lĩnh vực này đã phải cần đến một công trình lớn mới có thể trình bày cho cặn kẽ được. Cho nên, một vài điều nêu ra đây may mắn lắm cũng chỉ là những nét chấm phá vào một toàn cảnh lớn lao, hoành tráng và mang đậm tính dân gian. Trong xã hội cổ truyền Tây Bắc, văn hóa chuyên nghiệp, bác học chưa xuất hiện. ở người Thái tuy đã có một vài nghệ nhân giỏi sáng tác thơ ca nổi tiếng và mặc dầu dân tộc này có chữ viết cổ, nhưng tác phẩm của họ vẫn lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền miệng. Mỗi dân tộc trong vùng đều có một kho vốn sáng tác ngôn từ giàu có và đủ thể loại từ tục ngữ, thành ngữ, đồng dao, giao duyên, cho đến lời khấn, lời bùa chú, các áng văn trong lễ tang, trong lễ hội, các bài văn vần dạy bảo đạo đức cho dâu rể trong đám cưới, các thần thoại, đồng thoại, cổ tích, truyện cười v.v... ở một số dân tộc có cả truyện thơ dài hàng ngàn câu như Tiễn dặn người yêu (Thái), Tiếng hát làm dâu (H'mông), Vườn hoa núi Cối (Mường) v.v... Người Thái còn có cả truyện thơ lịch sử, kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắc như bản sử ca Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha (Táy pú Xớc) hay Lịch sử bản mường (Quán tố mướng) ngay đến lời hát của các Mo-then trong lễ cúng người ốm cũng là một áng du kí ca đầy hình tượng đẹp được diễn tả bằng văn phong trau chuốt. Bộ phận người Mường Tây Bắc cũng có những thiên sử thi như ở Hòa Bình, Thanh Hóa. Ngoài ra, do đã tách ra từ mấy thế kỉ và sống giữa những cộng đồng tộc người khác, nên người Mường Tây Bắc còn có những áng văn hiếm thấy ở các vùng Mường như "vườn hoa - Núi cối" chẳng hạn. Các truyền thuyết của từng dân tộc, một mặt khẳng định nguồn gốc của họ với những nhóm đồng tộc cư trú ở các vùng văn hóa khác ; mặt khác lại gắn bó với vùng đất và trình diễn lịch sử của họ trên mỗi đất miền này, và góp phần làm nên dấu hiệu đặc trưng của vùng văn hóa Tây Bắc. Có thể gặp những truyền thuyết như thế trên từng bước chân. Đây là nơi chúa Thái và chúa Xá thì bắn xem tên ai xuyên vào đá, kia là nơi Nàng Han (một Gianđa Thái) tắm (Suối Nàng Han). Dãy núi ba chỏm kia là thi hài hóa đá của ba dũng tướng quên mình bảo vệ quê hương v.v.. .. Và đặc biệt là những truyền thuyết về hoa ban, dân tộc nào cũng có và cũng thắm đượm tình người. "Xòe" là đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc. Người Thái có Xòe vòng quanh đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, gái trai trong tiếng chiêng trống rộn ràng. Nhưng cũng có Xòe điệu của người Thái trắng ven sông Đà suốt từ Ngọc Chiến, Quỳnh Nhai lên đến Lai Châu, Phong Thổ. Tương truyền có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa trong tiếng tính tang dịu dàng của hai chàng trai. Xoè vòng sôi nổi bao nhiêu thì xòe điệu nhẹ nhàng, tinh tế bấy nhiêu. Người H'mông nổi tiếng về các điệu múa khèn, đá châm hùng dũng của nam giới. Người Khơmú và Xinhmun lại độc quyền điệu múa lắc mông, lượn eo. Còn điệu Tăng bu (dỗ ống) là sở hữu của người Laha. Và đến với người Mường thì phải được xem múa bông. Riêng điệu múa Xạp, trừ người H'mông còn dân tộc nào trong vùng cũng có, mỗi nơi một vẻ riêng. Có thể xem nghệ thuật múa dân tộc là một nét đặc trưng của vùng Tây Bắc.
Dường như có một sở thích âm nhạc chung cho hầu hết các dân tộc Tây Bắc, một sở thích không thấy hoặc ít thấy ở các vùng khác. Đó là hệ nhạc cụ hơi có lưỡi gà bằng tre, bằng đồng hay bằng bạc. Nếu sưu tầm và gộp chung lại thì có đến vài chục loai hình thuộc hệ nhạc cụ này. Nhiều loại đã được cả nước biết đến như Pí pặp, khèn bè Thái, sáo và khèn H'mông. Ngoài ra, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng như cây Tính Tảu Thái, đống ôi Mường, chưn may Khơmú, đàn tròn và đàn ba dây Hà nhì v.v . . . ở nhiều dân tộc khác, thơ ca Tây Bắc được sáng tác để hát, chứ không phải để đọc. Những truyện thơ, những áng sử thi được trình diễn bằng cả những liên khúc âm nhạc mà nhiều bài trích ra từ đó đã được cả nước biết đến như bài "inh lả ơi" chẳng hạn .
Nét chung nữa trong văn hóa Tây Bắc là sở thích trang trí trang phục, chăn màn, đồ dùng với các sắc độ của gam màu nóng ; rất nhiều màu đỏ, xen vào với vàng tươi, vàng đất, vàng rơm, rồi da cam, tím và nếu có xanh thì phải là xanh da trời tươi Phải chăng giữa mênh mông xanh lá cây, những màu ánh lên như những điểm sáng, khẳng định sự có mặt của con người ? Còn họa tiết, bố cục, phối màu của trang trí thì rất nhiều và phong phú, đến nỗi chỉ một chiếc khăn piêu Thái, một bộ nữ phục H'mông, Lô Lô, Dao đỏ, một mặt chăn Mường, một điểm màn Kháng cũng đủ tầm cỡ để phải làm riêng một chuyên khảo . Những nét chung của cả vùng không hề làm mất đi tính riêng của văn hóa dân tộc. Thậm chí, cùng một cốt truyện, ở mỗi dân tộc vẫn có thể tìm thấy cái riêng. Lấy một chuyện bi tình sử có ở nhiều dân tộc Tây Bắc làm ví dụ : "một đôi trai gái yêu nhau nhưng vì lý do nào đó họ không lấy được nhau và cùng tự tử chết". Truyền thuyết của các dân tộc khác nhau, đương nhiên sẽ kết thúc khác nhau. Hẳn là những nét phác họa ở đây nhiều lắm cũng chỉ là gợi mở về một vùng văn hóa đa dạng và độc đáo hi vọng rằng có thể dẫn dắt chút ít cho những ai muốn tìm hiểu sâu thêm về vùng văn hóa Tây Bắc.

Nguồn: http://dulichtaybac.net